Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

Cá cướp biển


Chú cá nước ngọt kỳ lạ, có tên cá cướp biển có thể sử dụng chất hóa học mà nó tạo ra để “che” mùi cơ thể và lẩn tránh ánh mắt của kẻ thù.
Nếu việc sử dụng chất hóa học này được khẳng định thì đây sẽ là loài động vật đầu tiên sử dụng chất hóa học để chống lại kẻ thù, từ côn trùng đến các loài lưỡng cư được biết đến.
Loài cá cướp biển này thường sống ở những dòng suối và hồ Bắc Mỹ. Loài này có xu hướng ăn thịt các con cá khác trong bể bơi. Cá có một vài đặc điểm nổi trội như nó là thành viên duy nhất của họ nhà cá Aphredoderidae, hậu môn của loài này nằm gần cằm nó.
2 nhà nghiên cứu, William Resetarits - nhà sinh học thuộc đại học công nghiệp Texas, Lubbock, Mỹ và đồng nghiệp của mình, Christopher Binckley thuộc đại học Arcadia ở Pennsylvania, Mỹ đã phát hiện thêm một điểm đặc biệt của cá cướp biển.
Cá Cảnh
Loài cá nhiều điều kỳ lạ - cá cướp biển.
Trong hàng loạt các thí nghiệm được các nhà nghiên cứu tiến hành, họ nhận thấy loài bọ cánh cứng và ếch cây thường ít sống tại những nơi có loại cá là kẻ thù của chúng và con chúng. Tuy nhiên, cá cướp biển là ngoại lệ.
Loài ếch cây thường chỉ đẻ vài quả trứng tại các ao, nhưng lại đẻ rất nhiều ở ao có cá cướp biển sống. Các nhà khoa học cũng nhận được kết quả tương tự với loài bọ cánh cứng.
Kết quả này khiến các nhà nghiên cứu vô cùng ngạc nhiên và họ nhanh chóng nhận ra rằng loài ếch cây và bọ cánh cứng không hề biết đến sự tồn tại của cá cướp biển.
Tuy nhiên đến giờ họ vẫn chưa biết cơ chế tự “tàng hình” bản thân của loài cá này.
Có thể đó là một lớp áo ngụy trang, khó bị phát hiện hoặc nhận diện, hoặc nó không tạo ra những tín hiệu bị đối phương phát hiện ra.
Resetarits cho biết ông muốn kiểm tra khả năng che giấu bằng hóa học đã ảnh hưởng đến khả năng săn bắt của chúng thể nào, và liệu chúng có thể lẩn trốn được cả con mồi và kẻ thù hay không.
Các nhà khoa học cũng đang dự tính nghiên cứu sâu hơn về những tín hiệu mà bọ cánh cứng và ếch sử dụng để xác định cá sống trong ao và đâu là những tín hiệu mà cá cướp biển thiếu, khiến ếch và bọ cánh cứng không phát hiện ra chúng.

Cá ong

Cá ong hay còn được gọi là cá xọc đen, có một khả năng nhảy cao vô cùng ấn tượng. Cùng với màu sắc đặc biệt của cơ thể, gồm những dải vàng và đen xen kẽ nhau, khiên nhiều người liên tưởng tới loài ong. Cá nhỏ có năm vạch đen trên cơ thể, khi trưởng thành chúng phát triển thành mười vạch trên cơ thể.
Tốt nhất nên nuôi chúng trong những hồ cá có nhiều lũa, đá, chỗ lẩn trốn cho chúng. Chúng có thể ăn thực vật. Chúng hay nhảy, do đó bể cá cần phải có nắp đậy cẩn thận. Tuy cá Ong rất hung dữ với những cá thể đồng loại, nhưng lại sống hòa đồng với đại đa số các loại cá khác. Tránh nuôi chúng với những loài cá có kích thước khác biệt quá nhiều, đề phòng chúng có thể bị cá Ong ăn thịt.
Thói quen sinh sản của loài cá Ong này cũng chưa hề được nghiên cứu và ghi lại chính xác.

Cá Cảnh

Về thức ăn, chúng là một loài ăn tạp, rất dễ dàng cho người chơi chăm sóc, từ thịt bò, tim bò, sâu, tôm ngâm nước muối, thức ăn khô, thực vật.

Cá Cảnh

Kích thước phổ biến trên thị trường là 5 tới 10 cm.
Mức độ chăm sóc: Dễ dàng
Điều kiện nước: 72 – 81 º F, KH 3 -10, pH 6,0 – 7,5
Kích thước tối đa: 30 cm
Màu sắc: Đen, vàng
Chế độ ăn uống: Ăn tạp
Xuất xứ: Venezuela
Họ: Anostomidae

Cá đuôi kiếm, cá hồng kim

Cá đuôi kiếm có nhiều tên gọi như cá hồng kim, cá hoàng kiếm... Nét nổi bật nhất chính là thanh kiếm dưới thùy đuôi của chúng, chiếc đuôi này không phải là vũ khí mà chỉ là vật trang trí giúp cá trống nổi bật hơn trong mắt những con cái mái.

1. Giới thiệu thông tin chung cá đuôi kiếm

- Tên khoa học: Xiphophorus hellerii Heckel, 1848

- Bộ: Cyprinodontiformes (bộ cá sóc)

- Họ: Poeciliidae (họ cá khổng tước)

- Tên tiếng Việt khác: Hồng kiếm; Đuôi kiếm.

- Tên tiếng Anh khác: Red swordtail; Green swordtail.

- Nguồn gốc: Cá nhập nội từ thập niên 50, hiện đã sản xuất giống phổ biến trong nước

- Nguồn cá: Sản xuất nội địa

- Số kiểu hình: 2

Hình ảnh cá đuôi kiếm
Cá Cảnh

Video cá hoàng kiếm, cá hồng kim sinh sản

2. Đặc điểm sinh học cá đuôi kiếm

- Phân bố: Một số vùng châu Mỹ và châu Phi …

- Chiều dài cá (cm): 12 – 16

- Nhiệt độ nước (C): 18 – 28

- Độ cứng nước (dH): 9 – 25

- Độ pH: 7,0 – 8,3

- Tính ăn: Ăn tạp

- Phân bố: Châu Mỹ (trung và bắc Mỹ), châu Phi (Natal, Transvaal, và Namibia)

- Tầng nước ở: Mọi tầng nước

- Sinh sản: Cá đẻ con, mắn đẻ và dễ sinh sản

3. Kỹ thuật nuôi và chăm sóc cá đuôi kiếm

- Thể tích bể nuôi (L): 100 (L)

- Hình thức nuôi: Ghép

- Nuôi trong hồ rong: Có

- Yêu cầu ánh sáng: Vừa

- Yêu cầu lọc nước: Trung bình

- Yêu cầu sục khí: Trung bình

- Chiều dài bể: 80 cm

- Thiết kế bể: Bể trồng nhiều cây thủy sinh và có không gian rộng vì cá hoạt động tích cực. Cá đực thường hay đánh nhau. Cá cũng thích hợp trong bể nuôi chung.

- Chăm sóc: Cá khỏe, dễ nuôi, ưa môi trường nước hơi cứng và kiềm, ở môi trường nước mềm và axít cá dễ bị bệnh thối đuôi và nấm.

- Thức ăn: Cá ăn vụn bã thực vật, trùng chỉ, giáp xác, côn trùng, thức ăn viên

Cá nàng hai và cá thác lác

Cá nàng hai chính là cá thác lác được nuôi sinh sản phổ biến ở Việt Nam, đây vốn là dòng cá nuôi thương phẩm, sau này được lai được ra nhiều dòng khá đẹp và được dân chơi cá cảnh chọn làm cá cảnh.

1. Giới thiệu thông tin chung về cá nàng hai, cá thác lác
- Tên khoa học: Chitala ornata (Gray, 1831)

- Chi tiết phân loại:
Bộ: Osteoglossiformes (bộ cá thát lác)
Họ: Notopteridae (họ cá thát lác)
Tên đồng danh: Notopterus ornatus Gray, 1831
Tên tiếng Việt khác: Cá Còm

Tên tiếng Anh khác: Clown knifefish; Silver clown knife

Nguồn gốc: Cá đã được sản xuất giống nhân tạo ở các trại cá cảnh tại TP.HCM từ năm 1994. Hiện nguồn cá vẫn còn khai thác tự nhiên song song với sản xuất giống nhân tạo, mùa vụ khai thác từ tháng 7 đến tháng 11 trên hệ thống sông Cửu Long, sản lượng đánh bắt thấp.
- Tên Tiếng Anh: Clown featherback

- Tên Tiếng Việt: Cá Nàng haiCá Thát lát hoa; cá đô la

- Nguồn cá:Sản xuất nội địa

Hình ảnh cá nàng hai, cá thát lác
Cá Cảnh

2. Đặc điểm sinh học cá nàng hai, cá thát lác
- Phân bố:Một số nước lưu vực sông Mêkông …

- Chiều dài cá (cm):80 – 100

- Nhiệt độ nước (C):24 – 28

- Độ cứng nước (dH):2 – 10

- Độ pH:6,0 – 7,0

- Tính ăn:Ăn động vật

- Hình thức sinh sản:Đẻ trứng

- Chi tiết đặc điểm sinh học:
Phân bố: Lưu vực sông Mêkông thuộc Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam
Tầng nước ở: Giữa - đáy.
Sinh sản: Cá cái đẻ trứng dính trên giá thể (gạch tàu, chậu gốm, rong thủy sinh ...), mỗi lần đẻ khoảng 80 - 120 trứng. Cá đực bảo vệ và chăm sóc trứng. Trứng nở sau 5 - 7 ngày. Cá con ăn ấu trùng artemia sau 2 - 3 ngày.

3. Kỹ thuật nuôi cá nàng hai, cá thát lác
- Thể tích bể nuôi (L):350 (L)

- Hình thức nuôi:Đơn hoặc ghép với 1 số loại cá hiền hòa

- Nuôi trong hồ rong:Có

- Yêu cầu ánh sáng:Vừa

- Yêu cầu lọc nước:Trung bình

- Yêu cầu sục khí:Trung bình

- Chi tiết kỹ thuật nuôi:
Chiều dài bể: 120 - 150 cm.
Thiết kế bể: cá nàng hai gbơi nhẹ nhàng, cần cỡ bể kính vừa phải so với kích thước cá. Cá thích hợp môi trường yên tĩnh, ánh sáng nhẹ, có nhiều cây thủy sinh và nơi ẩn nấp. Cá hoạt động nhiều về đêm.
Chăm sóc: Cá sống nước ngọt nhưng thích hợp độ mặn 3 - 6 %o Ở độ mặn này cá khỏe, cường độ bắt mồi cao và màu sắc đẹp (L.T.T. Muốn và N.K.D. Thu, 1997). Cá chịu được môi trường thiếu ôxy nhờ có cơ quan thở khí trời.


Cho ăn: Là cá ăn động vật, thích bắt mồi di động như cá con, tép, côn trùng. Thức ăn viên nên dùng dạng chìm.

4. Thị trường mua bán, giá bán cá nàng hai, cá thát lác
- Giá trung bình (VND/con):40000

- Giá bán min - max (VND/con):20000 - 10000

- Mức độ ưa chuộng:Trung bình

- Mức độ phổ biến:Trung bình
Video cá nàng hai màu vàng


Một số dòng cá thác lác
Cá Cảnh
Featherfin Knifefish


Cá Cảnh
AlbinoNotopterus-notopterus




Cá Cảnh
Notopterus

Cá chó

Tên khoa học là Esox lucius là loại cá dữ thích sống ở nơi nước ít chảy, ven bờ sông, bờ hồ có nhiều cây cỏ. Cá chó là một trong những loại cá nước ngọt có khả năng thích nghi tốt nhất - chúng sống được ở những nơi nước rất lạnh, cũng ở được trong nước ấm và cả nước bùn lầy. Loại cá chó này có nhiều ở Bắc Mỹ và Bắc Âu.
Thân mình cá Esox lucius thon tròn, dài khoảng 1,5m; mõm to; miệng rộng; mắt có thể chuyển động nhanh và nhìn được hầu như theo mọi hướng; cân nặng khoảng 23kg. Chúng thường nấp ở một nơi, thần mình luôn co thành hình chữ "S", sẵn sàng búng người ra bắt mồi. Chúng chỉ sống một mình và bảo vệ lãnh địa kiếm mồi của mình.
Cá chó kiên nhẫn ẩn mình giữa cây cỏ dưới nước, chúng ngụy trang nhờ những đốm đen trắng trên người và lặng im bất động suốt một thời gian dài, chờ những con mồi lơ đãng đến đúng tầm. Khi thời cơ đến, cá chó lao ra, chộp con mồi bằng hai cái hàm chắc khỏe.Cá chó tấn công với tốc độ cực nhanh, nên khó có con mồi nào chạy thoát.
Cá Cảnh

Cá Cảnh
Đến 90% thức ăn của cá chó là những con cá có kích thước nhỏ, nhưng cá chó cũng bắt ăn thêm bất cứ động vật sống nào mà hàm của chúng chộp được. Cá chó ăn cả côn trùng, rắn, vịt con, ếch nhái, tôm, chim nước, loài gặm nhấm và nhiều loại thú có vú nhỏ khác. Kích thước thức ăn "vừa miệng" nhất của cá chhó là từ 1/3 đến 1/2 kích thước cơ thể chúng. Cá chó lớn cũng thích ăn thịt cả những con cá chó nhỏ hơn. Những con cá chó to (thường là cá mái) còn ăn cả cá chết, cá sắp chết hay cá bệnh. Nhiều câu truyện cổ còn kể rằng cá chó sống nuốt tươi cả những con chó, vịt, thiên nga,...
Răng của cá chó Esox lucius không thể cắn đứt con mồi mà chỉ có chức năng giữ chặt con mồi và đẩy con mồi xuống thực quản nhờ vào chuyển động xen kẽ của hàm trên và hàm dưới. Dịch tiêu hóa của cá chó rất mạnh, có thể tiêu hủy không chỉ con mồi mà còn làm tiêu biến luôn cả lưỡi câu, muỗng thép hay dây kim loại. Do vậy, cá chó chẳng ngần ngại gì mà không tấn công và ăn cả những con cá đang bị mắc câu.
Cá Cảnh
Cá mái to hơn cá trống. Vào đầu xuân, khi băng tuyết bắt đầu tan ra thì cũng là lúc cá chó đẻ trứng bên rìa nước, thậm chí trên các đồng cỏ ngập nước do tuyết tan. Một con cá nặng 1,4kg có thể đẻ 35.000 trứng, một con nặng 13kg có thể đẻ ra 300.000 trứng.
Nhiều cá trống bơi theo sau cá mái để thụ tinh cho trứng. Tuy nhiên, những con cá mái to lớn sau khi đẻ trứng xong có thể quay sang ăn thịt cả những con cá trống vừa mới thụ tinh cho trứng của mình. Cá bố và cá mẹ không hề chăm sóc trứng lẫn cá con. Trứng bám chặt vào cây cỏ và nở sau 10-15 ngày, tỉ lệ trứng được thụ tinh là trên 50%, trứng và con non sau đó chết rất nhiều. Con non vẫn bám vào thân cây cỏ, nhờ cái giác hút ở phía trước đầu cho đến khi lòng đỏ trứng được dùng hết. Lúc này con non bắt đầu chuyển sang ăn động vật không xương sống nhỏ.
Cá Cảnh
Phần lớn trứng và con non mới nở trở thành mồi cho cá chó lớn, cá pecca, cá tuế, chim nước, thú nước và một số loại côn trùng. Chưa tới 0,1% trứng phát triển được đến lúc trưởng thành. Hầu hết thời gian cá chó non phải sống ẩn nấp, tránh kẻ thù. Nhờ thói quen ăn nhiều nên cá non lớn rất nhanh, trong vòng 1 năm đã dài đến 20cm.
Cá chó lớn có hai kẻ thù chính: Cá mút đá và con người. Cá chó mái trong thời gian đẻ trứng thường xuất hiện không ở nơi nước cạn nên dễ dàng trở thành mồi của gấu, chó và những động vật ăn thịt khác.
Cá chó Esox lucius thường bị nhiễm nhiều loại động vật ký sinh bao gồm: sán lá, sán sơ mít, nếu không được nấu chín kỹ dễ nhiễm sang người ăn chúng.
Tuổi thọ trung bình của cá chó khoảng 10-12 năm, cũng có con sống đến 20 năm.
Cá Cảnh

Cá Vàng - GoldFish


Cá vàng còn gọi là cá tàucá ba đuôicá bốn đuôi là 1 trong những loài cá cảnh phổ biến nhất, với nhiều màu sắc và chủng loại. Cá vàng là loài cá dễ nuôi thích hợp với mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi. Hầu hết những ai chơi cá cảnh đều đã từng trải qua thời kỳ nuôi cá vàng.

1. Giới thiệu thông tin về cá vàng
- Tên khoa học: Carassius auratus auratus (Linnaeus, 1758)

- Chi tiết phân loại:
Bộ: Cypriniformes (bộ cá chép)
Họ: Cyprinidae (họ cá chép) 
Tên đồng danh: Carassius auratus (Linnaeus, 1758); Carassius carassius auratus (Linnaeus, 1758); Cyprinus auratus Linnaeus, 1758
Tên tiếng Anh khác: Grucian carp; Gibel carp
Nguồn gốc: Cá nhập nội khoảng thập niên 40 và tiếp tục nhập thường xuyên sau đó các kiểu hình lai tạo mới. Cá sản xuất giống phổ biến trong nước từ thập niên 50, bắt đầu từ cá ba đuôi thường.

- Tên Tiếng Anh: GoldfishGolden carp

- Tên Tiếng Việt: Cá VàngCá TàuCá Ba đuôi

- Nguồn cá:Sản xuất nội địa

Hình ảnh cá vàng
Cá Cảnh


2. Đặc điểm sinh học cá vàng
- Phân bố:Trung Quốc

- Chiều dài cá (cm):10 – 30

- Nhiệt độ nước (C):19 – 28

- Độ cứng nước (dH):10 – 15

- Độ pH:6,0 – 8,0

- Tính ăn:Ăn tạp

- Hình thức sinh sản:Đẻ trứng

- Chi tiết đặc điểm sinh học:
Phân bố: Cá vàng là dạng đột biến của cá diếc bạc xuất hiện ở Trung Quốc từ hơn 800 năm trước, sau đó du nhập vào Nhật khoảng hơn 400 năm trước. Đa số các kiểu hình cá vàng hiện nay là do sản xuất nhân tạo và không hiện diện trong môi trường tự nhiên.
Tầng nước ở: mọi tầng nước. 
Sinh sản: Cá thành thục sau 1 năm tuổi, khi đó nhận biết cá đực qua các nốt sần trên nắp mang, thân và vây ngực, còn cá cái có bụng to, lỗ sinh dục lồi ra màu đỏ hồng. Cá đẻ trứng dính vào giá thể mềm (rễ lục bình, rong thủy sinh ...) thụ tinh ngoài. Vớt trứng hoặc vớt cá bố mẹ ra để ấp riêng trứng, trứng nở sau 40 - 60 giờ ở nhiệt độ 28 - 300C. Sau khi nở 2 - 3 ngày cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn moina.

3. Kỹ thuật nuôi cá vàng
- Thể tích bể nuôi (L):250 (L)

- Hình thức nuôi:Ghép

- Nuôi trong hồ rong: Có

- Yêu cầu ánh sáng:Vừa

- Yêu cầu lọc nước:Ít

- Yêu cầu sục khí:Ít

- Chi tiết kỹ thuật nuôi:
Chiều dài bể: 100 - 120 cm.
Thiết kế bể: cá vàng có thể nuôi trong bể kiếng, ao cảnh hay bình cầu tùy thuộc vào chủng loại kiểu hình. Cá có tính khí thân thiện, thích hợp với bể nuôi chung. Bể cá trải sỏi, với vài vật trang trí và cây thủy sinh (cây thật hoặc bằng nhựa) tạo nơi trú ẩn cho cá. Cá cần nhiều ôxy và tạo nhiều chất thải, do đó bể nuôi và bề mặt cần đủ rộng. Nếu giữ cá trong bể cầu nên để mức nước ở vị trí có diện tích bề mặt lớn nhất.
Chăm sóc: cá vàng rất háu ăn và thải nhiều phân, cần cung cấp sục khí và hệ thống lọc đủ mạnh để làm sạch bể và ổn định chất lượng nước.
Thức ăn: cá ăn tạp từ trùn chỉ, giáp xác, côn trùng, thực vật đến mùn bã hữu cơ (chất đáy)... Bên cạnh mồi sống, cần bổ sung thức ăn viên để giảm nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh cho cá.