Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Thực phẩm vàng cho người huyết áp cao

Phòng ngừa huyết áp cao là nhiệm vụ tất yếu để bảo vệ sức khỏe của đàn ông trung niên. Ngoài duy trì những thói quen sinh hoạt tốt, đàn ông trung niên cần ăn gì để phòng ngừa huyết áp cao. Dưới đây là 15 loại thực phẩm giúp bạn xua tan nỗi lo huyết áp cao.

Thực phẩm vàng cho người cao huyết áp
Sau tuổi 40, con người thường mắc rất nhiều bệnh mạn tính và huyết áp cao đã trở thành “sát thủ hàng đầu” của sức khỏe. Đặc biệt là đàn ông trung niên từ 40 đến 50 tuổi phát tướng, vòng bụng tăng lên thì tỷ lệ mắc huyết áp cao cao hơn những người cùng lứa tuổi những vòng bụng bình thường 50%. Phòng ngừa huyết áp cao là nhiệm vụ tất yếu để bảo vệ sức khỏe của đàn ông trung niên. Ngoài duy trì những thói quen sinh hoạt tốt, đàn ông trung niên cần ăn gì để phòng ngừa huyết áp cao. Dưới đây là 15 loại thực phẩm giúp bạn xua tan nỗi lo huyết áp cao.
Tảo bẹ
Trong tảo bẹ có chứa tảo bẹ polysaccharide có tác dụng giảm nồng độ cholesterol và triglycerid trong máu. Đồng thời tảo bẹ polysaccharide còn có tác dụng chống đông máu, có thể ngăn chặn sự hình thành các cục máu đông trong mạch máu. Ngoài ra, trong tảo bẹ còn giàu cellulose có thể kết hợp với axit trong cơ thể bài tiết ra ngoài cơ thể, từ đó giảm sự tổng hợp cholesterol, có tác dụng tích cực trong việc ngăn ngừa xơ cứng động mạch. Những năm gần đây, chuyên gia y học còn phát hiện ra rằng, thiếu canxi là nguyên nhân quan trọng dẫn đến huyết áp cao mà tảo bẹ lại giàu chất canxi, chắc chắn có tác dụng rất tốt trong việc phòng ngừa và điều trị huyết áp cao.
Chanh tươi
Chanh tươi giàu vitamin C, vitamin P, giúp tăng cường tính đàn hồi và độ dẻo dai của mạch máu, giảm bớt sự ion canxi gây nên đông máu, từ đó từ đó phòng ngừa và điều trị huyết áp cao hay các bệnh lý về tim mạch khác.
Cà tím
Mọi người đều rất quen thuộc với quả cà tím. Nó là một trong những vị khách thường xuyên trên bàn ăn của chúng ta, cũng là một trong những loại rau được nhiều người yêu thích. Thực ra, có thể mọi người còn không biết cà tím là thực phẩm tốt để thanh nhiệt giải cảm. Thường xuyên ăn cà tím còn có thể hạ huyết áp. Các chuyên gia khuyên rằng, cà tím giàu vitamin P, Flavonoids (1 loại chất chuyển hóa trung gian của thực vật) có tác dụng làm mềm mạch máu, có thể hạ huyết áp.
Thực phẩm vàng cho người huyết áp cao
Ngô
Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng, ngô rất giàu các axit béo không bão hòa, đặc biệt là hàm lượng axit linoleic lên đến trên 60%. Nó và vitamin E trong mầm ngô kết hợp có tác dụng giảm nồng độ cholesterol trong máu và ngăn chặn sự lắng đọng trong thành mạch máu. Vì vậy, ngô có tác dụng nhất định trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch, tăng lipid máu và tăng huyết áp.
Nước ép củ cải đường
Một nhóm nhà khoa học ở đại học Reading, nước Anh đã phát hiện ra rằng, uống một chút nước ép củ cải đường hàng ngày cũng có thể hạ huyết áp. Huyết áp cao sẽ làm tăng nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ. Một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy, uống 500 ml nước ép củ cải đường có thể làm hạ huyết áp trong 24 giờ. Còn nghiên cứu mới nhất phát hiện ra rằng, một lượng nhỏ nước ép củ cải đường cũng có tác dụng hạ huyết áp. Kết quả, uống 100 gram nước củ cải đường có thể làm cho hạ huyết áp rõ rệt trong thời gian ngắn 0-4 tiếng và thời gian dài 0-13 tiếng.
Các loại hạt
Các loại hạt là thực phẩm thiết yếu để hạ huyết áp. Vì các loại hạt giàu chất chống oxy hóa, magiê, chất xơ và một ít natri. Nhưng cũng cần chú ý sử dụng quá nhiều hạt rang muối sẽ gây nên các vấn đề về sức khỏe như béo phì và Cholesterol cao.
Quả Kiwi
Năm 2011, bệnh viện trực thuộc Đại học Oslo, Na Uy đã tuyên bố một nghiên cứu mới, mỗi ngày ăn 3 quả Kiwi có thể hạ huyết áp, có tác dụng rõ rệt hơn ăn táo. Tiến sĩ Suzanne Stein Bam, chuyên gia phòng ngừa bệnh tim mạch NewYork cũng nhất chí cho rằng, trong đồ ăn uống hàng ngày nên có cả quả Kiwi. Nó sẽ giúp cho trái tim khỏe mạnh.
Thực phẩm vàng cho người huyết áp cao
Kiều mạch đắng
Kiều mạch đắng là đặc sản vùng Lương Sơn, Tứ Xuyên, được biết đến là thực phẩm có vị đắng nhưng giàu dinh dưỡng. Theo phân tích, trong thực phẩm này có chưa rất nhiều nguyên tố vi lượng thiết yếu như: magiê, kẽm, crôm, selen… Các nguyên tố này có quan hệ mật thiết với chức năng huyết quản của tim và não. Vì vậy, người thường xuyên ăn kiều mạch đắng có Lipid máu và cholesterol giữ ở mức bình thường, có tác dụng hữu hiệu trong việc phòng ngừa và điều trị huyết áp cao.
Cá hố
Thường xuyên ăn cá hố có tác dụng dưỡng gan bổ huyết, làm ẩm da, dưỡng tóc. Tuy cá hố giàu hàm lượng chất béo hơn các loại cá khác nhưng nó lại có tác dụng giảm cholesterol. Cá hố giàu nguyên tố magiê có thể bảo vệ hệ thống huyết quản của tim và não, giúp phòng ngừa huyết áp cao. Cá hố thích hợp với người suy nhược cơ thể lâu ngày, khó thở mệt mỏi, da khô nhưng người có bệnh ngoài da, hen suyễn thì không nên dùng. Cá hố nên chiên, trước khi cho ra đĩa thì phun chút rượu, mùi vị sẽ càng ngon hơn.
Trà hoa cúc
Y học hiện đại cũng nghiên cứu chứng minh, trà hoa cúc có tác dụng hạ huyết áp, loại bỏ tế bào ung thư, mở rộng động mạch vàng và kháng khuẩn. Uống trà hoa cúc lâu ngày có thể tăng lượng canxi trong cơ thể, điều tiết chức năng cơ tim, giảm cholesterol, thích hợp cho người già và trung niên sử dụng và có tác dụng phòng ngừa dịch bệnh viêm kết mạc, cũng có hiệu trong trong việc chữa trị khô mắt do gan nóng, mắt làm việc quá nhiều. Đồng thời, trà hoa cúc thơm dịu, làm sảng khoái đầu óc, cũng có tác dụng nhất định trong việc thư giãn, giảm đau. Đông y thường dùng chữa trị các bệnh: mắt đỏ, họng sưng đau, ù tai, cảm mạo phong nhiệt, đau đầu, huyết áp cao. Nếu uống trà hoa cúc lâu ngày còn có tác dụng lợi khí huyết, người nhẹ nhõm, kéo dài tuổi thọ.
Nước cam
Nước cam giàu hàm lượng vitamin C, có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch của con người. Năm 2010, một nghiên cứu mới đây của đại học Auvergne, nước Pháp đã phát hiện, mỗi ngày uống 2 cốc nước cam có thể hạ huyết áp. Nhà khoa học còn phát hiện, đàn ông trung niên uống mỗi ngày nửa lít nước cam (khoảng 2 cốc) liên tục trong 1 tháng thì mức huyết áp của họ giảm đi đáng kể. Thành phần hoạt chất chủ yếu trong nước cam là hesperidin, có nhiều trong lá chè, nước hoa quả, đậu nành và cacao, có tác dụng tốt cho sức khỏe. Ngoài phát hiện ra chất hesperidin ra, quả cam còn giàu hàm lượng vitamin C chống oxy hóa, giúp làm chậm hư tổn đến các mạch máu; giàu kali giúp hạ huyết áp.
Thực phẩm vàng cho người huyết áp cao
Các loại đậu
Các loại đậu có chứa rất nhiều kali. Khi cơ thể quá ít nguyên tố kali sẽ chuyển sang hấp thụ nguyên tố natri nhiều hơn, mà nguyên tố natri là nguyên nhân gây nên huyết áp cao. Tóm lại, nếu cơ thể hấp thụ được nhiều nguyên tố kali thì chúng ta có thể kiểm soát tốt huyết áp. Các thực phẩm từ đậu còn chứa isoflavone, cũng có tác dụng tốt trong kiểm soát huyết áp.
Khoai lang tím
Một nghiên cứu của các nhà khoa học tại đại học Scranton ở Pennsylvania, nước Mỹ đã cho thấy, mỗi ngày ăn khoai lang tím 2 lần có thể hạ huyết áp, có hiệu quả giống như ăn yến mạch mà còn không làm cơ thể béo phì, thích hợp cho người bệnh huyết áp cao có thể trọng vượt tiêu chuẩn. Tuy khoai lang tím tốt nhưng thiếu protein và chất béo, vì vậy phải kết hợp ăn cùng với các loại rau, trái cây và các loại thực phẩm chứa nhiều protein. Hơn nữa, cách ăn khoai lang tím tốt nhất là luộc chín ăn cả vỏ, cố gắng đừng nướng bằng lò vi sóng, vì nhiệt độ cao trong lò vi sóng sẽ phá hủy các hoạt chất trong nó. Ngoài ra, không được ăn những củ khoai lang tím có đốm đen sẽ dễ bị ngộ độc.
Thực phẩm vàng cho người huyết áp cao
Chuối
Mỗi ngày ăn 2 quả chuối sẽ giúp chúng ta tránh ra phiền não về bệnh tim vì chuối giàu kali. Hàm lượng kali trong 2 quả chuối có thể hạ 2-3 mmHg huyết áp. Thực phẩm giàu kali như đậu, chuối có tác dụng rất lớn trong việc hỗ trợ giảm huyết áp nhưng đồng thời người bệnh tiểu đường cũng cần chú ý ăn ít chuối.
Thực phẩm vàng cho người huyết áp cao
Cà rốt
Thịt cà rốt mịn, có vị ngọt đặc biệt, giàu Carotene, vitamin C và vitamin nhóm B, được con người mệnh danh là “Tiểu nhân sâm”. Cà rốt còn là thực phẩm hạ đường huyết, tốt cho người bệnh tiểu đường. Nó chứa một số thành phần như mesothelin, phenol tiêu chuẩn có thể tăng lưu lượng máu trong động mạch vành, hạ thấp lipid trong máu, thúc đẩy quá trình tổng hợp của epinephrine, còn hạ huyết áp, giúp trái tim khỏe mạnh, là thực phẩm tốt cho người bị huyết áo cao và bệnh tim mạch vành.

Sầu riêng chữa bệnh “sầu chung” đôi lứa

Cây sầu riêng còn được mệnh danh là “Hoàng hậu của loài quả”. Các bộ phận cây sầu riêng được dùng làm thức ăn và thuốc chữa bệnh.
Cây sầu riêng còn được mệnh danh là “Hoàng hậu của loài quả”. Các bộ phận cây sầu riêng được dùng làm thức ăn và thuốc chữa bệnh. Trái sầu riêng là một loại quả nhiều dinh dưỡng, thơm, ngon, mát, bổ, được dùng làm nước giải khát, mứt kẹo, bánh, nấu chè, xôi. Hạt sầu riêng được dùng như hạt mít, hạt điều. Ăn có tác dụng bổ tỳ, bổ thận. Đặc biệt, sầu riêng còn là loại quả rất tốt cho cả hai giới. Dưới đây, xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Tráng dương: bầu dục lợn 1 bộ, sầu riêng (sắp chín) 200g, gia vị vừa đủ. Bầu dục thái nhỏ, ướp gia vị. Sầu riêng chọn quả sắp chín để thái miếng nhỏ xào với bầu dục. Ăn nóng. Ngày 1 lần. Cần ăn liền 5 ngày. Công dụng: chữa chứng lãnh cảm, suy yếu tình dục.
Sầu riêng chữa bệnh “sầu chung” đôi lứa
Quả sầu riêng không những bổ dưỡng mà còn là vị thuốc giúp lứa đôi thêm mặn nồng.
Chữa di tinh, liệt dương: sầu riêng 50g, đường 20g (hoặc mật ong lượng thích hợp) đánh nhừ như kem, thêm khoảng 100ml nước sôi để nguội hoà đều để uống. Ngày uống 2 lần, trong 10 ngày.
- Thuốc bổ dưỡng kích dương: sầu riêng (múi quả) 200g, ba kích 100g, hạt mướp đắng 50g. Tất cả nguyên liệu sấy khô tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 thìa canh với rượu ngon trước khi ăn.
Thuốc bổ thận cứng gân cốt, kích thích tiêu hoá: vỏ quả sầu riêng 15g, đậu đen sao 10g, tang ký sinh 12g, hà thủ ô chế 15g, đỗ trọng 15g, cốt toái bổ 15g, vỏ quýt 8g. Sắc uống.
- Rượu bổ thần tiên: sầu riêng (thịt quả) 300g, long nhãn (cùi nhãn) 100g, mật ong 50g, rượu trắng 1.500ml. Sầu riêng, long nhãn xay nhỏ cùng mật ong cho vào rượu, để nơi thoáng mát, thường ngày cần lắc đều, sau 7 ngày dùng được, mỗi lần uống từ 20-30ml, ngày 2-3 lần.
Kinh nguyệt kéo dài: vỏ sầu riêng sao 12g, rau má 12g, cỏ mực tươi 12g, ngải cứu 8g, trắc bá diệp sao 8g, cam thảo nướng 4g, củ sả 4g, gương sen 3 cái. Sắc 3 lấy 1 rồi hoà với 4g lọ chảo gang để uống.
Tiêu chảy: vỏ quả sầu riêng 20g, vỏ quả măng cụt 20g. Sắc với 3 bát nước lấy 1 bát chia 2 lần uống. Bệnh nhẹ chỉ dùng 1 trong 2 vị.
Sốt rét, đau gan vàng da: rễ lá cây sầu riêng 12g, cam thảo dây 12g, chi tử (quả dành dành) 12g sắc với 3 bát nước lấy 1 bát. Uống làm 2 lần. Dùng 5 ngày.
Cảm sốt, viêm gan vàng da: lá và rễ cây sầu riêng 30-40g với lá rễ cây đa 20-30g sắc uống. Có thể chỉ dùng lá rễ sầu riêng sắc uống trong ngày. Lá dùng nấu nước cho bệnh nhân viêm gan vàng da, tắm rửa.
Lưu ý: Để có sầu riêng mang tính bổ dưỡng và chữa bệnh, cần chọn những quả vỏ hơi nâu vàng là quả chín cây. Quả tròn đều, cuống tươi nhỏ, lõi giữa vàng là múi trong ruột sẽ vàng ánh. Các gai phải nhọn, nở hết, bóp nhẹ 2 gai giáp nhau là quả không sượng.

Cây hẹ: Kháng sinh thiên nhiên

Chỉ là một cây gia vị rẻ tiền nhưng cây hẹ lại nắm giữ nguồn kháng sinh tự nhiên nên trị được nhiều bệnh mà chẳng lo mệt mỏi, kháng thuốc.


Từ cây dại thành gia vị trợ tiêu hóa
Mọc dại ở vùng Trung và Bắc Á, cây hẹ ngày nay đã được thuần hóa gieo trồng, phát triển quanh năm. Đông y gọi hẹ là cửu thái, khởi dương thảo, có vị cay, tính ấm, bổ dương, tán huyết, giải độc, cầm máu, tiêu đờm… Sách “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh dùng hẹ trong nhiều bài thuốc trị tiểu dầm, ho, cảm, thổ tả, lên cơn suyễn đột ngột…
Đông y Trung Quốc cho cây hẹ là bài thuốc trợ tiêu hóa rất tốt, hiện nay chúng được trồng và thu hoạch phổ biến để đưa về các nhà máy chế biến làm gia vị khô. Người châu Âu và châu Mỹ cũng sử dụng hẹ làm gia vị trong món salad với tên gọi “tỏi thơm” để tránh tình trạng đầy bụng, ợ hơi và trị tiêu chảy vì có chất kháng sinh mạnh.
Kháng sinh mạnh hơn penicillin
Thành phần của cây hẹ chứa các hoạt chất kháng sinh mạnh như allcin, odorin, sulfit mạnh hơn cả kháng sinh penicillin, chống được tụ cầu và nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Streptococcus hemolyticus, Salmonella tryphi, Shigella flexneri, Shigella shiga, Coli bethesda, Bacillus subtilis…
Nhờ vậy chúng có thể chữa được ngứa ghẻ, chín mé, nhiễm trùng da bằng cách đắp lá giã nhỏ lên vết thương; tiện lợi trong việc trị giun kim cho trẻ mà không sợ tác dụng phụ của thuốc tân dược. Trường hợp viêm lợi đau nhức cũng có thể dùng hẹ để kháng viêm, diệt khuẩn bằng cách giã nát và ngậm trong miệng. Trẻ em bị viêm tai có thể lấy nước lá hẹ nhỏ vào để diệt vi khuẩn.
Kháng sinh trong lá hẹ cũng diệt được trùng roi âm đạo nên chúng cũng trở thành bài thuốc phụ khoa hữu hiệu cho chị em hay tiết dịch âm đạo, viêm nhiễm, khí hư. Trong trường hợp này, phụ nữ có thể dùng bằng cách uống nước lá và rửa ngoài âm đạo.
Long đờm trị ho
Hẹ có thành phần saponin có tác dụng long đờm. Kết hợp với thành phần kháng sinh, hẹ trở thành vị thuốc tốt cho những người hen suyễn, khò khè có đờm, ho do lạnh, nhiễm khuẩn. Dược tính này của hẹ gần với tỏi nhưng lại ít hắc hơn nên dễ dùng cho trẻ nhỏ. Khi cho trẻ uống nước lá hẹ thì ngoài trị ho, giun kim, còn trị được chứng tiểu dầm, hay đổ mồ hôi trộm, viêm hô hấp trên.
Tăng nhạy cảm insulin
Lá hẹ giàu chất xơ lại có tác dụng tăng tính nhạy cảm của tế bào với insulin nên chúng tốt cho bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc insulin. Chúng làmgiảm đường huyết, giảm mỡ máu, ngừa xơ mỡ động mạch, bảo vệ tuyến tụy. Bệnh nhân đái tháo đường nên dùng lá hẹ nấu canh hoặc làm gia vị hàng ngày.
Lưu ý khi dùng hẹ
- Hẹ kỵ với mật ong nên nếu muốn nước hẹ ngọt, dễ uống thì chỉ thêm đường phèn, tránh dùng mật.
- Một số hoạt chất trong hẹ dễ bay hơi, phân hủy nên chỉ dùng nước hẹ tươi hoặc hấp chín, không sắc hoặc đun sôi kỹ vì sẽ làm giảm tác dụng của các hoạt chất.
- Toàn thân hẹ đều có dược tính nên khi dùng làm thuốc, tốt nhất dùng cả hoa, lá và rễ. Hẹ thu hoạch quanh năm nhưng mùa xuân dược tính cao hơn.

Công dụng tuyệt vời của vỏ chanh

Những loại trái cây thuộc họ cam quýt rất đa dạng và phong phú. Trong đó, chi cam (còn gọi là chi citrus) bao gồm những loại trái cây “ăn tiền” như cam, chanh, quất, quýt, bưởi, bưởi chùm... là một kho chứa các chất dinh dưỡng thực vật rất có lợi cho sức khỏe, đồng thời cung cấp những chất dinh dưỡng thiết yếu, chẳng hạn vitamin C.
Tuyệt vời nhà họ cam!
Gần đây, các nhà khoa học và dinh dưỡng học đã khám phá một nhóm hóa chất có hoạt tính sinh học cao là flavonoid.
Chính flavonoid cùng vitamin C sẽ hình thành “cặp bài trùng” và càng làm tăng vai trò của vitamin C trong cơ thể, chống chọi trước cơn bão ôxy hóa. Các hợp chất flavonoid này còn được gọi bằng một cái tên mỹ miều là vitamin P, vốn rất dồi dào ở rau cải và trái cây. Hiện trên thị trường có bán rất nhiều chế phẩm gọi là bổ sung vitamin C. Thực ra, đây là loại vitamin C tổng hợp (ascorbic acid) và hầu như chẳng có tác dụng gì mấy trên cơ thể. Thiếu các chất flavonoid trong trái cây citrus thì ascorbic acid được bổ sung sẽ rất dễ dàng bị ôxy hóa và sinh ra những sản phẩm có thể gây nguy hại cho cơ thể. Đây cũng là lý do vì sao ăn thực phẩm trái cây, rau cải sẽ được cung cấp nguồn vitamin tốt hơn là từ các chế phẩm bổ sung vitamin.
Nhiều nghiên cứu cho thấy các bioflavonoids trong chanh, cam, quýt, bưởi... có tác dụng ổn định và củng cố độ bền của thành mạch cũng như ổn định lưu lượng máu nhờ vào khả năng kháng viêm của những chất dinh dưỡng thực vật này. Đây cũng là yếu tố quan trọng nhằm cung cấp oxygen cho các mô của cơ thể, đồng thời giúp cơ thể ổn định huyết áp. Những chất flavonoid trong chi citrus cũng có tác dụng làm giảm sưng đau, phù thũng và hỗ trợ hô hấp khi gặp các vấn đề về phổi...
Hesperidin là một loại flavonoid được tìm thấy nhiều nhất ở phần vỏ và màng trắng bám ở các múi của các trái cây thuộc chi citrus. Hesperidin thường được dùng để điều trị các trường hợp suy giãn tĩnh mạch, bệnh trĩ... Nếu chế độ dinh dưỡng thiếu hesperidin sẽ làm giảm chức năng của các mao mạch, gây ra các chứng đau chân.

 
Năm 1962, bác sĩ Robert Cragin đã “âm thầm” sử dụng những chất flavonoid trên các lực sĩ, vận động viên. Bác sĩ Cragin nhận thấy những nhóm vận động viên được cung cấp flavonoid có tần suất tổn thương cơ, khớp thấp hơn nhóm không được cung cấp chất này. Khi có chấn thương xảy ra, nhóm được cung cấp flavonoid cũng sẽ nhanh chóng bình phục hơn nhóm không dùng.
Nguồn cung cấp các chất flavonoid kèm với vitamin C nhiều nhất là ở chanh, chanh giấy, bưởi, cam, tắc... Chúng đạt hàm lượng cao nhất khi trái chín trên cây (chứ không phải dú ép hoặc dùng hóa chất thúc chín). Khi trái đã hái khỏi cây thì càng để lâu, hàm lượng flavonoid và vitamin C càng giảm dần.
Để tận dụng nguồn flavonoid thì đừng... vắt chanh bỏ vỏ. Hãy dùng vỏ chanh (kể cả cam, quýt, bưởi...) cắt sợi mỏng cho vào thức ăn (với điều kiện là vỏ sạch), tùy vào tài chế biến của các bà nội trợ. Khi ăn cam, quýt thì nên ăn luôn những màng trắng bám vào múi để khỏi phí của trời.

Những người không nên ăn xôi

Xôi là món ăn dân dã quen thuộc gắn bó trong cuộc sống thường ngày của mỗi người. Tuy nhiên không nên ăn nhiều.
Xôi chứa nhiều calo hơn bạn tưởng. Xôi nấu từ gạo nếp, cộng thêm các loại đậu, dừa nạo, vừng... cung cấp cho bạn tới 600 calo/đĩa xôi (trong khi 1 bát phở chỉ chứa 400 calo). Đó là còn chưa kể bạn ăn các loại xôi gà, xôi thịt, xôi trứng....
Nên ăn 1 tuần khoảng 2 lần là vừa đủ, không nên ăn xôi thay ăn cơm. Đặc biệt, những người sau đây không nên ăn xôi.
Xôi là món ăn dân dã quen thuộc gắn bó trong cuộc sống thường ngày của mỗi người. Là món được ưa chuộng từ trẻ nhỏ, người già, từ học sinh, cho đến người đi làm. Chắc hẳn bạn cũng nằm trong số đó.
Mặt khác, xôi được gọi là "thực phẩm sạch", bởi nó không có hóa chất như: bún, miến, phở..
Tuy nhiên không nên ăn nhiều. Bởi bất cứ thứ gì ăn nhiều quá cũng không tốt. Nên ăn 1 tuần khoảng 2 lần là vừa đủ, không nên ăn xôi thay ăn cơm. Đặc biệt, những người sau đây không nên ăn xôi.

 

1. Người béo
Với những người muốn giảm béo thì cũng không nên lựa chọn món này vào thực đơn ăn sáng bởi xôi cũng làm từ hạt gạo mà ra, và cũng có nhiều tinh bột giống cơm. Chẳng qua xôi thì nấu ít nước hơn nấu cơm mà thôi.
2. Người bị đau dạ dày
Xôi không thích hợp cho người bị bệnh dạ dày bởi đỗ xanh, gạo nếp tuy lành nhưng nó lại tạo ra hơi khiến người bị dạ dày luôn ợ chua, khó chịu. Đó là chưa kể nếu bạn ăn xôi có thêm các thành phần như: hành , tỏi, tiêu...
3. Người bị mụn nhọt
Ăn nhiều xôi sẽ khiến bạn bị "nóng trong", dễ nổi mụn. Do đó người nào có cơ địa nóng thì nên hạn chế món này.

Không có tinh trùng nên ăn gì?

Bệnh nhân không có tinh trùng có thể được điều trị bằng cách thu tinh trùng từ ống dẫn tinh, mào tinh hay mô tinh hoàn.
Theo y học hiện đại, nam giới sau 3 lần làm tinh dịch đồ mà không thấy có tinh trung thì được khẳng định là không có tinh trùng. Nguyên nhân có thể do tắc nghẽn hoặc không do tắc nghẽn. Bệnh nhân không có tinh trùng có thể được điều trị bằng cách thu tinh trùng từ ống dẫn tinh, mào tinh hay mô tinh hoàn. Theo y học cổ truyền chứng này do bị hư, hoặc bẩm sinh đã thiếu, yếu nhược, thận tinh bị tổn thất, mệnh môn hỏa suy... Việc điều trị không có tinh trùng kết hợp cả khoa học kỹ thuật và y học cổ truyền mà cụ thể là các món ăn sẽ đem lại hiệu quả cao.

 Thịt dê-một trong những lựa chọn của các quý ông khi muốn tăng cường bản lĩnh. Hình minh họa.
Ngẩu pín bò, dê hầm: ngẩu pín bò, dê, tủy sống lợn mỗi thứ 100g, nước, gia vị đủ dùng. Rửa sạch ngẩu pín, tủy lợn, chặt miếng. Cho chảo lên bếp, đổ dầu vào chảo, cho các thứ trên vào đảo qua, nêm gia vị, đổ nước sâm sấp, hầm nhừ thì nêm gia vị vào là dùng được. Món ăn có vị mặn tính ôn, có chứa nhiều protid, lipid, có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa cơ thể, sản sinh tinh trùng và thúc đẩy cho tinh trùng hoạt động. Những người không có tinh trùng dùng món ăn này rất thích hợp.
Cháo thịt dê nhục thung dung: thịt dê 100g, gạo tẻ 150g, nhục thung dung 15g. Thịt dê thái nhỏ ướp gia vị, nhục thung dung ninh nhừ bỏ bã, cho gạo và thịt dê vào ninh nhừ, cho hành, gia vị vừa đủ, ăn nóng cách ngày, ăn trong một tháng. Theo Đông y, nhục thung dung vị ngọt, mặn, tính ôn, bổ thận dương, ích tinh huyết. Thịt dê có vị cay, tính ôn có tác dụng ôn bổ tỳ thận, thông kinh tán hàn. Lượng protid cao làm kích thích hormon sinh dục. Cháo này chữa cho người bị liệt dương, xuất tinh sớm, ít tinh trùng, chân tay lạnh, lưng, gối mỏi, đau lưng, sức khỏe yếu, lưỡi nhạt, thở yếu, nói nhỏ. Kết hợp tập dưỡng sinh, kiêng ăn cay, nóng.

Vì sao không nên ăn trái cây ngay sau bữa ăn?

 - Rất nhiều người có thói quen tráng miệng bằng trái cây ngay sau bữa ăn. Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng điều này là không khoa học vì nó ảnh hưởng không tốt tới tiêu hóa.
Thời gian tốt nhất để ăn trái cây là một giờ trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn hai đến ba giờ. Các nghiên cứu cho thấy trong thành phần của trái cây chứa nhiều cacbonhydrat, đường mía, tinh bột, đường glucose… Do đó ăn trái cây ngay sau bữa ăn sẽ tạo thêm gánh nặng cho dạ dày, đường ruột và tuyến tụy.

Ăn trái cây  tốt nhất là trước bữa ăn một giờ hoặc sau bữa ăn hai giờ. Hình minh họa. 
Bên cạnh đó, các chất có nhiều trong trái cây như cellulose, hemicellulose, pectin… đều có khả năng hấp thụ nước mạnh. Sau khi xuống dạ dày, hấp thụ nước, trái cây trong dạ dày sẽ nở bung và tạo cảm giác no, đầy hơi, ảnh hưởng không tốt tới chức năng tiêu hóa. Đặc biệt là khi cơ thể có quá nhiều cellulose cũng ảnh hưởng tới sự hấp thu các chất dinh dưỡng, vitamin, rất không tốt với những người bị tiểu đường.
Đối với những người đang muốn giảm cân, việc ăn trái cây thay cơm hoặc ăn trái cây ngay sau ăn cũng là điều không tốt vì ăn nhiều trái cây sau ăn cũng là nguyên nhân khiến dạ dày bị giãn ra, dẫn tới béo phì. Tốt hơn cả là ăn trái cây một giờ trước bữa ăn, vừa có tác dụng giảm béo, vừa giúp hệ tiêu hóa của bạn hoạt động hiệu quả.